Site map
Tìm Kiếm Bài Đã Đăng
Loading
Tình Và T¶i
                                     
     
Con tàu lù lù tiến vào ga Phủ Lý vào lúc nhá nhem tối.

      Đoàn tù được thả về nhôn nhao chờ đợi từ hồi sáng mà cứ phập phồng lo sợ, tuy được báo rằng tàu đến trễ mà không biết cho tới bao giờ. Ở miền Bắc, tàu trễ là chuyện thường xuyên, nhưng đối với tù lại có lo nghĩ khác, vì chuyện gì cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, biết đâu rằng cái "giấy ra trại" quí hóa kia cũng có thể bị thâu hồi vào giờ chót. Ngay sáng nay, trong khi cả trại đang tập họp để chờ đi lao động, thì một số người, trong đó có tôi được gọi ra đứng riêng, chờ cho mọi người đi hết mới được lệnh là phải làm gì. Một số bị kêu lên "làm việc" lẽ tất nhiên không lấy gì làm phấn khởi , một số chuẩn bị chuyển trại với tất cả những chờ đợi bất ngờ, một số đi biệt giam vì kỹ luật thì đã biết trước cái gì đang chờ đợi, một số được tha về. Tôi ở trong số được tha về, nhưng vẫn bàng hoàng không dám tin ở tai mình nữa. Sau khi cầm chắc trong tay tấm giấy ra trại vàng khè, lem luốt bằng một thứ giấy pờ-luya đã tái sinh không biết bao nhiêu lần, mà lòng mừng rỡ hân hoan vô cùng như chưa bao giờ cầm được một tấm giấy quý giá như vậy, quý giá hơn tất cà các văn bằng đã nhận lãnh trong suốt cả cuộc đời. Để khỏi vỡ mộng vì lầm lẫn, tôi cố gắng đọc những giòng chữ đánh máy mờ nhạt như đã hết mực, để xác nhận tên tuổi và để nhận ra một tội danh kỳ quặc chỉ ở Việt Nam mới có là: "can tội: Bác sĩ." Điều này cũng không làm tôi ngạc nhiên bằng khi nhận lại cái biên nhận bộ áo quần, chiếc đồng hồ tay và năm mươi đồng tôi mang theo khi nhập trại. Khi được hỏi về chiếc đồng hồ và số tiền sao không thấy, tên cán bộ lạnh lùng trả lời: "Có thể nhầm lẫn đấy, vậy thì anh phải ở lại để chờ điều tra xong sẽ giải quyết cho anh." Trời ơi! Không biết tên này học ở đâu ra cái đòn tâm lý cao siêu quá vậy. Tôi choáng váng mặt mày, lại phải hết sức năn nỉ để xin làm ơn quên giùm cái biên nhận độc hại đó đi cho tôi được nhờ. Cán bộ lần này ra vẻ thông cảm rộng lượng, có lẽ vì đã biết hơn ai hết câu: "Nhứt nhật tại tù thiên thu tại ngoại" hay là muốn tôi đi cho khuất mắt.

      Mọi người âm thầm chen lấn cho mau lên được con tàu cứu tinh đó, trong tranh tối tranh sáng chẳng còn ai nhận ra ai. Tiếng còi huýt dài như để đánh dấu một khúc quanh trong quảng đời, và tàu lăn bánh để thấy xa dần hình bóng những chú công an áo vàng đưa chúng tôi ra tới ga, xa dần một quá khứ ghê rợn.

      Sáng hôm sau, tàu đến ga Thanh Hóa, một số người nhào lên để mua bán đổi chác, mong còn vớt vát một chút gì sót lại nơi mấy tên tù khố rách áo ôm. Để có tiền ăn trong mấy ngày đi đường, tôi bán ngay cái quần tergal đang mặc và chấp nhận về Sài-gòn trong chiếc quần tù bằng vải thô mỏng manh vá chằng vá chịt. Trong tay sẵn có đồng tiền, nên khi tàu đến ga Vinh, tôi mua ngay một cái bánh ú, tuy nhiều lá hơn bánh nhưng muôn phần thơm tho đậm đà hơn những hạt bo bo trong tù. Đang lâng lâng thưởng thức cái hương vị gần như xa lạ đó, bỗng một thanh niên chạy đến trước mặt tôi la lớn:

    - Ông Thầy! mừng quá, ông Thầy có nhớ em không?
 
    Tôi hơi ngỡ ngàng vì đã lâu không quen với cách xưng hô đó, và ngờ ngợ  thấy anh này hơi quen nhưng không nhớ ra.

- Em là Sáng đây, hồi ở trại Nam-hà, em bị suyễn nặng, Ông Thầy đã săn sóc và gởi em ra trại Mễ để được đi bệnh viện, nhờ đó mới có ngày hôm nay đây.

   Tôi mường tượng nhớ đến hình ảnh của Sáng cách đây khoảng nửa năm, tiều tụy hốc hác khi lên cơn suyễn nguy kịch trong phòng giam ngột ngạc chật chội, thiếu không khí, thiếu ánh sáng, phải gởi đi cấp cứu.

   Sáng là một sinh viên trường Kỹ Thuật Phú Thọ, cùng với khoảng hai mươi bạn trẻ khác trong phong trào "Thanh Niên Phục Quốc", bị đày ra trại Nam Hà, vì tội biểu tình "chống phá cách mạng". Những bầu máu nóng này đã làm cho không khí trại trở nên sôi động khác thường. Bị cột phơi nắng ở giữa sân trại, anh em đã hô to khẩu hiệu "Đả đảo cộng sản" cho đến khi chính ban giám thị chịu không nổi phải thả ra. Nắm được điểm yếu của ban giám thị là sợ những sự xáo trộn, tù càng ngoan ngoản thì trại càng được khen là quản lý giỏi, nên anh em thỉnh thoảng tuyệt thực để đòi hỏi phần ăn bo bo khá hơn mà không bị cắt xén. Trại đã phải cắt xén tới cái phần ăn đã vô cùng khốn nạn đó để nuôi lợn, nuôi chó, mua chim mua cá v.v... trang trí trại thành một thắng cảnh, để được tiếng khen những khi có phái đoàn thăm viếng.

     Mấy hôm sau, cả trại được ăn khá hơn vài muỗng bo bo, nhưng rồi cũng đâu vào đấy, phủ bênh phủ, huyện bênh huyện, tù đói vẫn lại hoàn đói. Anh em cũng đã gán cho cai tù cái tên "Chèo" (thay vì phải gọi bằng "cán bộ quản giáo") vì trông chẳng khác gì phường chèo, lúc nào cũng đóng kịch giả dối trông rất buồn cười. "Chèo" trở thành một danh từ phổ thông cho cả trại đến nỗi ban giám thị phải gọi lên mắng nhiếc: "Quản lý các anh có cán bộ nam, cán bộ nữ, sao lại gọi bằng "chèo đực, chèo cái " nghe chẳng văn hóa chút nào." Khi có một tên cai tù nào vô ý đi một mình trên con đường vắng trong cái trại rộng bằng cả một làng, tức khắc anh em ùa lại cho ăn một trận đòn rồi bỏ chạy. Thế là hôm sau cả đám bị kỷ luật biệt giam, một hình phạt không xa lạ gì đối với Sáng. Mỗi người được đẩy vào một cái hộc vừa đủ để ngồi, thò một chân ra ngoài qua một lỗ nhỏ để  xiềng vào một thanh sắt dài chung cho mấy chục cái chân, cứ thế ngày này qua ngày khác.

     Bây giờ trông Sáng hồng hào tươi tắn hơn nên tôi nhận không ra. Sáng ngồi xuống nắm chặt tay tôi lo lắng hỏi:
    
    - Ông Thầy có được thăm nuôi không mà gầy như thế này?

    Tôi không trả lời mà hỏi lại:

    - Còn cậu thì sao?

    Mắt Sáng có vẻ đăm chiêu không còn sáng rỡ như lúc mới nhận ra tôi, hình như có một tâm sự gì bí ẩn, Sáng chậm rải nói tiếp:

   - Từ khi ra trại Mễ sức khỏe em khá hơn nhiều, vả lại trại Mễ dành cho những người sắp sửa được tha nên kỷ luật lỏng lẻo hơn, có ai dại gì trốn trại khi biết mình sắp được tha.

   - Nhưng sao được tha mà trông cậu không vui, hay là mết phải "chèo cái" nào rồi?

    Sáng cười, vỗ mạnh vào vai tôi như để trút được một chút thông cảm:

   - Cũng đúng mà cũng không đúng, làm sao trồng nổi cây si ở xứ này được, phải không Thầy?

     Thế rồi Sáng mở lần lần bầu tâm sự, thỉnh thoảng bị cụt hứng vì tàu dừng lại lâu ở các ga để cho mấy em bé bán hàng rong nhào lên tha hồ chen lấn dẫm đạp lên mọi người để rao hàng, quanh đi quẩn lại cũng chỉ mấy quả chuối, mấy củ khoai, bát nước vối...Bọn con buôn cũng nhào lên, có khi vớ được những mối bở như cặp kính mát, chiếc áo Montagut, những "sản phẩm tiểu tư sản" dưới mắt người cộng sản, mà tù thì lại muốn tống đi vì cho là lỗi thời, không có dịp mặc lại và phải kiếm tiền ăn đi đường nữa, trong khi ở miền Bắc đó lại là những món thời trang rất có giá tuy đã cũ mèm, ngang hàng với chiếc quần jean (được trịnh trọng gọi là "quần bò") hay chiếc áo blouson của không quân.

     Sự ồn ào trên tàu cũng không làm Sáng cụt nguồn cảm hứng đang chờ dịp để tuôn ra.

     Khi được gởi ra trại Mễ, Sáng ở vào trường hợp thập tử nhất sinh, được chở đi cấp cứu ở bệnh viện Phủ Lý. Sau một tuần lễ mê mang, Sáng dần dần hồi tỉnh và biết là mình đang còn sống và đang nằm bệnh viện mà không bị canh gát. Thật ra Sáng không thuộc ngụy quân ngụy quyền mà thuộc diện dân sự không nguy hiểm, vả lại đang bị bệnh nặng nên được cứu xét để cho về, chỉ còn chờ thủ tục thôi.

    Ở bệnh viện Phủ Lý, Sáng được mọi người chú ý vì là bệnh nhân duy nhất người Nam. Sáng ăn nói nhỏ nhẹ, có một giọng miền Nam ấm áp gây một sức hấp dẫn đặc biệt, nhất là khi mà những huyền thoại về quà người Bắc gởi tặng bà con trong Nam là mấy quả cam hay mấy cái bát ăn cơm không còn ai tin nữa. Mọi người thường bu quanh Sáng để hỏi han về đời sống trong Nam.

     - Nghe nói ở Sài Gòn cái gì cũng dùng máy hết phải không anh?

Sáng khiêm nhường trả lời:

     - Vâng, nhưng cũng tùy theo gia đình chứ không phải ai cũng có hết đâu.

     - Quái nhỉ, giặt giũ cũng máy, rửa bát cũng máy, thổi cơm cũng máy, thế không ai lao động hết à?

     Nghe câu nói nặc mùi xã hội chủ nghĩa, Sáng không cầm được một chút bốc đồng mà châm thêm:

     - Đi ỉ... cũng máy nữa đấy. Nhà nào cũng có cầu tiêu máy chứ không phải còn đổ thùng như ở Hà Nội đâu.
   
      Thấy câu nói hơi hớ, nhưng chẳng thấy ai phản ứng, Sáng hơi yên tâm vì chắc là ai cũng đã từng nghe chuyện mấy cán bộ mới ở Bắc vào Nam thường hay vo gạo hay nuôi cá trong nhà cầu.

      Sáng thường giúp đỡ những bệnh nhân khác trong sinh hoạt hằng ngày, giúp một cụ già làm vệ sinh  hay trò chuyện với bà cụ bán mấy quả chuối hay mấy quả ổi ở ngoài cổng, là chuyện chưa bao giờ thấy ở đây. Nhưng điều làm mọi người ngạc nhiên nhất và coi như là một đặc điểm khác thường để đánh giá con người Sáng là vào mỗi bữa phát cơm anh vẫn bình tĩnh chờ đợi, không chen lấn ồn ào giành giựt như những bệnh nhân khác. Có khi Sáng còn lấy cơm giùm cho những người yếu đuối không chen lấn nổi. Ngoài những khi lên cơn suyễn, Sáng thường phụ giúp dọn dẹp vệ sinh nên Trại Nội Thương nơi Sáng nằm lúc nào cũng tươm tất để được đề cao sự hiệu nghiệm của cái gọi là "lao động liệu pháp," một liệu pháp chỉ có ở xã hội chủ nghĩa.  Nhờ vậy Sáng chiếm được cảm tình của mọi người, họ quên đi cái danh hiệu "Tù Ngụy" được gán cho Sáng lúc mới nhập viện.

     Cảm tình âm thầm nhất là của bác sĩ trưởng trại. Gọi là bác sĩ nhưng thật ra Liên, tên của vị nữ bác sĩ trẻ này, mới chỉ là " nghiên cứu sinh" , sinh viên sắp ra trường, tương đương với tước vị nội trú trong Nam, vì thiếu người nên được đề bạc làm trưởng trại nội khoa bệnh viện Phủ Lý. Liên bản tính chăm chỉ, tận tâm nghề nghiệp, thích học hỏi, rất xứng đáng với chức vụ mới. Liên là người Hà Nội chính cống, nhiều người cho đó là một hãnh diện, sanh đẻ và lớn lên ở Hà Nội, chốn ngàn năm văn vật, nên có một giọng nói rất ngọt ngào, cung cách điềm đạm, khác hẳn với những người Hà Nội mới sau này, nên được bệnh nhân cảm phục thương mến. Với dáng vóc đều đặng của tuổi thanh xuân, nước da không trắng lắm nhưng mịn màng, đặc biệt là lúc nào cũng tươi cười làm cho cái khuôn mặt trái soan càng thêm dể cảm. Đôi mắt đen nháy mà lại hơi mơ màng, thích hợp cho một nghệ sĩ hơn là cho một bác sĩ. Liên cũng thích làm dáng theo cái nữ tính hồn nhiên Hà Nội chính cống của nàng. Từ khi Nhà Nước phát động phong trào "Phụ nữ mặc quần Âu," một phong trào mà Báo Nhân Dân cổ võ rần rộ ngang hàng với ngày xưa Vua Minh Trị Thiên Hoàng canh tân nước Nhật, bắt mấy bà mệnh phụ phu nhân trong triều phải mặc áo hở cổ hở vai theo kiểu Tây phương, thì được Liên hưởng ứng ngay. Thế là mấy chợ trời bán áo quần cũ đường Tạ Thu Thâu, đường Kỳ Đồng ở Sài Gòn tha hồ được Hà Nội chiếu cố, vòi cho được cái quần tergal thẳng nếp mà không phải ủi, vì hai chữ bàn ủi không có trong tự điền miền Bắc. Còn may mặc tại chỗ thì vải đã xấu mà còn lụng tha lụng thụng như quần đàn ông. Liên là một trong số con gái Bắc đầu tiên được hảnh diện tròng vào chiếc "quần Âu", thay cho cái quần "cháo lòng" bạc màu, đen không ra đen, vàng không ra vàng, nhăn túm nhăn tíu, có khi còn là "nhất bộ nhất bái ", (không phải là màn Tiết Nhân Quý mỗi bước mỗi lạy cha là Tiết Đinh San, mà phải hiểu là chỉ mỗi một bộ độc nhất) đêm ngày chi cũng một mình nó thôi. Liên nhờ mấy cô bạn hớt tóc ngắn nhưng vẫn để chấm ngang vai nên không giống mốt mấy Thím Xẩm Chợ Lớn như mấy nữ xướng ngôn viên thấy trên đài truyền hình khi mới tiếp thu Sài Gòn.

      Hằng ngày đi khám bệnh mặc cái quần Âu, mang đôi guốc gỗ (một sản phẩm xa xỉ mới được nhập cảng từ miền Nam) thay cho đôi dép râu, choàng thêm chiếc áo bờ-lu trắng, Liên đi tiên phong trong sự "đổi mới" của phụ nữ Miền Bắc. Liên rất chăm chú vào công việc chuyên môn, coi Sáng cũng như bao nhiêu bệnh nhân khác, niềm nở nhưng nghiêm nghị, thái độ thông thường của những bác sĩ trẻ nhưng hay muốn "lấy le." Tuy nhiên Liên cũng không khỏi không nhìn thấy nơi Sáng một cái gì khác với bệnh nhân thường. Trước hết Sáng là bệnh nhân người Nam duy nhất mà nàng săn sóc từ trước đến nay, để nghe được giọng Nam đầm ấm hơi lạ lạ vui tai, và để hiểu thêm về xứ Sài Gòn xa lạ mà nhiều người mới vào Nam ra thường hay thổi phồng không biết đâu là đúng, đâu là sai. Hơn nữa, Sáng là một bệnh nhân tù, một thanh niên ở tù vì chính trị, có học thức mà không có nợ máu. Sáng bị bắt vì đi biểu tình chống đối chế độ mới, cũng như đã từng chống đối những bất công ở miền Nam trước đây, một hiện tượng không hề có ở miền Bắc. Sáng phản đối những chính sách phi lý, nhất là việc đốt những "sách báo đồi trụy do Mỹ Ngụy để lại "trong đó có cả những bộ bách khoa tự điển, những tài liệu khoa học lịch sử quý giá, những sách giáo khoa bằng ngoại ngữ v.v... Những điều đó làm cho Sáng đau lòng và làm cho Liên suy nghĩ mà không phản ứng một cách máy móc bằng hai chữ phản động như những người khác, mặc dầu nàng được đào tạo từ trong trứng nước bởi mối hận thù với miền Nam.

     Qua những lần tiếp xúc với Sáng, ngoài những câu hỏi thông thường về bệnh hoạn, ít khi Liên đề cập đến đời tư mặc dầu nàng cũng tò mò muốn biết thêm về anh chàng lạ lùng đó, nàng hết sức giữ ý giữ tứ, dù sao cũng không tránh khỏi "quan trên trông xuống, người ta trông vào ". Sáng biết thân phận mình nhưng không mảy may bị mặc cảm và với bản tánh khiêm tốn nên ăn nói xưng hô rất lễ độ, một thưa bác sĩ, hai thưa bác sĩ, mặc dầu trong bụng không khỏi nghĩ thầm: "con bé này đáng tuổi em mình, gọi thế cho cô ta khoái." Liên cũng có cảm tưởng như vậy nên mặt hơi đỏ nhưng cũng làm bộ như không để ý đến cách xưng hô. Dầu sao nàng vẫn thấy cách ăn nói của người Nam không văn hoa, nhưng thật tình và lịch thiệp. Bỗng nhiên nàng so sánh với lối tán tỉnh ba hoa bóng bẩy nhưng hơi lố lăng của những chàng trai Hà Nội có khi làm nàng khó chịu, hễ gặp con gái là xưng anh với em ngay, mặc dầu chưa hề quen biết. Dần dà, công việc khám hằng ngày cho Sáng trở thành một thói quen dễ chịu. Tuy ép mình trong vai trò giữa thầy thuốc và con bệnh, mỗi lần nghe, gõ, nắn trên con người của Sáng, đôi mắt Liên cũng khó tránh khỏi cái nhìn trong sáng và hiền từ trên cái khuôn mặt thông minh rắn rỏi của chàng sinh viên Nam Kỳ này. Một chút rung động thoáng qua, nàng sợ hãi, vội khám nhanh để đi chỗ khác, như để chạy trốn với chính mình. Nàng biết rằng Sáng đang phải chịu đựng những cùng cực ghê gớm nhưng chưa bao giờ thấy than thở một điều gì, ngay cả lúc mệt ngất vì cơn bệnh. Tư cách của Sáng làm cho Liên phải kính nể và không khỏi ái ngại khi thấy vết sẹo lớn trên cổ chân Sáng vì bị cùm nhiều ngày, tự nhiên nàng thấy một chút mặc cảm thua sút đối với Sáng.

       Khi kiếm đâu được một hộp thuốc ngoại từ Pháp hay từ Mỹ gởi về, Liên không ngần ngại đem đến nhờ Sáng dịch cách xử dụng, Liên sung sướng và hãnh diện vì một bác sĩ miền Bắc mà biết xử dụng đúng cách thuốc Mỹ thuốc Pháp là một ưu điểm trong cách chữa trị. Ngoài cái cảm khoái chuyên môn đó, Liên còn có một thứ cảm khoái khác, không những sự hiểu biết ngoại ngữ của Sáng làm cho nàng khâm phục, mà không hiểu sao đọc lời dịch toa thuốc mà nàng lại thấy rung cảm như đọc bức thơ tình vậy.

      Thường thì cuối tuần Liên về Hà Nội ngoại trừ những khi phải ở lại trực. Mỗi lần như vậy, nàng khám phá thêm một chút gì mới nơi Sáng và sự tiếp xúc được tự nhiên hơn. Sáng nhờ Liên mượn đâu được cây đàn guitare đem ra gẩy vài bản làm cho không khí bệnh viện đỡ tẻ nhạt và cho phiên trực của bác sĩ có ý nghĩa ấm cúng hơn. Ngồi trên bực thềm sau hè bệnh viện, nhìn nắng chiều xuyên qua hàng cây để chiếu ngã xuống sân, tiếng chim hót ríu rít càng làm cho khung trời thơ mộng đó thêm sống động, Sáng cảm hứng cất giọng:

           Nắng chia nửa bãi chiều rồi,
           Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá sầu,
           Sợi buồn con nhện giăng mau 
          
Em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây,
           Lòng anh mở với quạt này,
           Trăm con chim mộng về bay đầu giường,
           Ngủ đi em, mộng bình thường,
           Ru em sẵn tiếng thùy dương đôi bờ,
           Ngủ đi em …….
           Ngủ đi em mộng bình thường
           À ơi ! Ru em có tiếng thùy dương mấy bờ
           Cây dài bóng xế ngẩn ngơ,
           Hồn em đã chín mấy mùa buồn đau,
           Tay anh em hãy tựa đầu,
           Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
           Ngủ đi em......

   
Liên lịm người. Chưa bao giờ nàng được thưởng thức một khúc nhạc hay như vậy, truyền cảm đến như vậy. Tim nàng rực lên trong một cảm giác đê mê vừa dễ chịu vừa khó chịu. Quên cả ý tứ, nàng gục đầu vào vai Sáng, nhìn ánh nắng chiếu giữa sân, phó mặc cho cái cảm giác lâng lâng đó tỏa khắp cơ thể, nàng quên tất cả, quên tất cả, chỉ biết đang sống trong một thế giới mông lung khó tả.

     Sáng để yên hồi lâu vì sợ làm vỡ giấc mộng thủy tinh đó, cuối cùng Sáng hỏi:

     - Liên, à quên, bác sĩ có biết bài hát này của ai không?

      Liên gườm Sáng một cách tinh quái, rồi nói:

     - Biết thơ của Huy Cận mà chưa hề được nghe nhạc.

     - Tác giả bài thơ còn chưa được nghe huống chi là Liên. Ngụy tụi tui là vậy đó, những cái hay của miền Bắc phải chờ Ngụy khai thác mới thưởng thức được, cũng như...

    Sáng cúi nhìn vào đôi mắt mơ màng của Liên mà không dám nói tiếp.

Liên nũng nịu ra lệnh:

     - Từ nay cấm anh dùng chữ Ngụy nghe chưa. Ờ ờ, mà xưng anh với em là vì thói quen của Hà Nội, chứ không phải như trong Nam của các anh đâu, đừng tưởng bở.

     Sáng chủ quan cho rằng khi người đàn bà tự cho mình một chút quyền cấm đoán là triệu chứng của tình yêu, nên lững lờ nói:

     - Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.

       Cuộc tình đã đi đến giai đoạn gây cấn khó gở, Liên đặt nặng tình cảm của hai con người mà cố quên đi sự ràng buộc của hai xã hội. Nàng quyết tiến tới, lẽ tất nhiên trong sự khôn ngoan dè dặt, nàng thừa thông minh để làm việc đó. Nàng cố phấn đấu.     
                                             
       Mấy hôm sau Liên nói với Sáng:

     - Ngày mai em đi công tác ở Sài Gòn, anh có nhắn gởi gì về gia đình không?

     Sáng mừng rỡ vì đã lâu không được tin nhà, viết một lá thơ dài, vì không còn bị kiểm duyệt, ghi rõ địa chỉ và vẽ luôn cái họa đồ nhà mình ở đường Hàng Xanh đưa cho Liên để tìm nhà. 

     Mấy hôm sau lại thấy Liên đi làm, Sáng ngạc nhiên vội hỏi:

    - Không đi Sài Gòn hả?

    - Thay đổi vào phút chót, có người khác đi thay, nhưng vẫn đem thư anh đi rồi. Yên trí sẽ có quà đấy, tha hồ mà tặng đào nhé.

    Thì ra Liên giả bộ nói đi Sài Gòn để âm thầm nhờ người bạn điều tra về gia đình Sáng. 

     Liên rất tin tưởng khi được biết Sáng là con đầu lòng của một gia đình lễ giáo, có tiệm bán vải ở gần chợ Bà Chiểu, còn nhà thì ở Hàng Xanh, trong một khu cư xá rộng rãi thuộc loại trung bình ở Sài Gòn, nhưng theo lời thuật lại của bạn Liên thì phải là "Trung Ương Đảng mới ở được" làm cho Liên hơi ngại ngùng. Sáng đã học gần xong ban kỹ sư xây dựng trường đại học Kỹ Thuật Phú Thọ. Sáng có cô em gái vừa đậu tú tài xong thì "giải phóng" nên không đi học nửa. Thằng em trai mới mười tuổi, cứ về nhà lén lấy sách của Sáng đem ra trường nạp để đốt, cứ một ki-lô thì được một điểm tốt.

    Liên cũng muốn cho Sáng biết về mình. Bố của Liên là đại tá trong quân đội nay đã về hưu. Tuy không phải đảng viên nhưng sống lâu lên lão làng, được cấp một căn nhà trong một chung cư bốn từng ở khu Đống Đa, đó là một ước mơ nay đã thành sự thật. Liên than phiền là có hai điều bất tiện, một là cái bếp chung nên hôm nào ăn gì là cả xóm đều biết, làm một con gà thì ai đi ngang cũng hỏi: "Hôm nay ăn gà đấy à?" không biết đó là câu khen hay là lời cảnh cáo. Bất tiện thứ hai là mỗi từng lầu chỉ có được một vòi nước ở dưới sân, nên đêm nào cũng phải thức nối đuôi nhau chờ có khi tới hai ba giờ sáng để cho chảy đầy một thùng nước rồi xách lên tới từng lầu mình ở để dùng trong ngày thì cũng đã hụt hơi, có lẽ đó là điều vất vả nhất nên Liên cứ than mãi:

     - Mỗi từng mà chỉ có một vòi thôi đấy.

      Sáng thấy tội nghiệp, nhưng cũng đùa:

     - Sau này anh sẽ cho riêng em một vòi, tha hồ mà dùng.

      Liên nguýt dài một cái, trong đuôi mắt mơ màng đó còn kín đáo dấu một chút thích thú tinh nghịch về cái tếu của Sáng.  
                                                       
     Liên còn có người anh hơn Liên năm tuổi, làm phóng viên cho báo Nhân Dân nên thường hay đi công tác săn tin ngoài phố. Mỗi khi gặp chuyện gì đặc biệt thì lại phải lọc cọc đạp xe về tòa soạn ở phố Hàng Trống, lãnh cho được cái máy hình để đem ra chụp, có khi ra tới nơi thì chẳng còn gì nữa để chụp.

    Sáng cũng dành cho Liên nhiều cảm tình, vì ở vào cái tuổi tràn đầy nhựa sống, đang xây mộng tương lai mà bị lâm vào cảnh tù đày, nay lại được một chút hơi ấm, nhất là từ một con người như Liên thì không dễ gì mà không rung cảm. Sáng thấy Liên khôn ngoan và có nhiều nữ tính, Liên yêu là yêu cái hiên ngang mà nàng cho là lý tưởng nơi con người đàn ông như Sáng, đã chọn con đường chông gai khi mới vào đời, trong khi có điều kiện để tạo một cuộc đời êm đềm hơn. Nàng đã nhìn được sự hào hùng đó xuyên qua lớp vỏ của một tù nhân thê thảm. Sự nghiệp không có, tương lai mờ mịt, nàng yêu không vì những tiêu chuẩn vật chất thường tình, đó mới là tình yêu thật sự và bền vững chứ không phải là sự đổi chát mà người đời cứ lầm tưởng là tình yêu nên thường dễ tan vỡ.  Nhưng ở trong hoàn cảnh "chim bị đạn" này, Sáng cũng rất dè dặt, đúng ra Sáng thương Liên nhiều hơn là yêu, cố kéo dài tình trạng để chờ...hạ hồi phân giải.

.    Nhìn vào cuộc tình, ai cũng đoán rằng khó ổn, nhất là trong cái xã hội mà người nọ kiểm soát người kia, tình cảm con người bị đặt vào hàng thứ yếu.

     Một hôm, Chính Ủy bệnh viện mời Liên lên làm việc, và báo cho Liên biết là đã có tai tiếng không tốt cho Liên và cho cả bệnh viện.

     Thất vọng, Liên chỉ còn biết trông cậy vào gia đình. Liên thú thật với bố mẹ là đã yêu Sáng và muốn lấy Sáng. Bố mẹ Liên chưng hửng, vì đã qua một cuộc đời trong quân đội, đã chứng kiến những khó khăn trong chế độ, nay chỉ muốn được yên thân, nếu Liên lấy một tên Ngụy làm chồng, mà lại đang ở tù vì chính trị, thì quả là một tai họa lớn cho gia đình. Nhưng vì quá thương con, không nở để cho con đau khổ, nên cũng đành để cho Liên tùy ý lựa chọn. Mẹ Liên ôm chặc lấy con mà khóc, Bố Liên trầm tư hồi lâu rồi nghẹn ngào nói:

    - Con nay đã lớn lại có ăn học, bố mẹ rất hãnh diện và để cho con quyết định tương lai của con. Nhưng con nên nhớ là chuyện này còn phải qua tổ chức, trong chế độ ta, con cũng biết là chuyện vợ chồng không phải là việc riêng của cá nhân hay của gia đình mà là của đoàn thể nữa.

      Đêm đó Liên không ngủ được, khóc cả đêm. Sáng hôm sau đến bệnh viện với cặp mắt sưng vù, nháo nhác tìm Sáng nhưng không thấy đâu, vì Sáng đã được chuyển về trại Mễ.

      Liên ngồi thừ người, thể xác rã rời, đang cố nén cho tiếng khóc khỏi bật ra, thì nhận được sự vụ lệnh từ nơi tay đồng chí Chính Ủy để được điều đi bệnh viên Lạng-Sơn, một nơi....xa miền Nam chừng nào hay chừng đó.
                                                                                                               
     Tàu dừng lâu ở ga Đà Nẳng, sự ồn ào và không khí khác hẳn hình như làm cho Sáng chợt tỉnh cơn mê. Thật vậy, sau hai ngày đường bây giờ mới thấy rõ sự khác biệt giữa Nam và Bắc. Hàng rong không còn là củ khoai củ sắn mà là những ổ bánh mì thịt thơm tho, những con gà quay chảy mỡ hay những ly cà-phê bốc khói...Tôi mời Sáng một ly cà phê đá, vì đã nhiều năm chưa hề thấy cục nước đá:

     - Uống đi, uống cho nguội cơn mê, rồi còn tính chuyện tương lai nữa chứ.

      Sự đau khổ đã làm Sáng trở thành triết gia, nói với tôi mà như nói với chính Sáng:

     - Ở đâu con người cũng vẫn là con người, xã hội có thể làm thay đổi tư tưởng mà không thay đổi được tình cảm. Trách nhiệm con người là đừng để cho xã hội chi phối tình cảm.

    - Thế cậu định làm gì, có lối thoát nào không?

    Sáng nhìn thẳng tới trước như đang nhìn vào tương lai và nói bằng một giọng đầy cương nghị:

    - Em sẽ cố liên lạc với Liên để rủ nhau đi vượt biên.

                                                            Paris, Mùa Thu 2007                       
                                                         Phương-vũ  Võ Tam-Anh    
Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y
© 2010
picasso-weeping-woman-1937